Nâng cao hiệu quả hợp tác giữa Trường Đại học Kinh tế Nghệ An với doanh nghiệp

Từ năm 1810, khi nhà triết học người Đức là Willhelm Humboldt thành lập trường đại học Berlin, ông đã triển khai thực hiện ý tưởng dạy học chuyển trọng tâm sang nghiên cứu hỗ trợ cho đơn vị công tác, hay nói cách khác chính là việc dạy học nhằm tạo ra đội ngũ nhân lực đáp ứng được yêu cầu thực tế của các doanh nghiệp. Đến năm 1980, mô hình đại học – doanh nghiệp được triển khai mở rộng ở nhiều trường đại học lớn trên thế giới, đặc biệt là ở các nước tư bản phát triển như Anh, Pháp, Đức, Mỹ[i] … Như vậy, mô hình trường đại học – doanh nghiệp là một mô hình hợp lý, có tính thích nghi cao, gắn chặt với thực tiễn sản xuất, đồng thời đây là một mô hình hợp tác mang tính cộng sinh, hai bên cùng có lợi. Trong khuôn khổ bài viết, nhóm tác giả muốn đề cập đến hiện trạng hợp tác với các doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo ở Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, cụ thể là hoạt động hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo của Khoa Kinh tế- Quản trị kinh doanh, qua đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới,

Từ khóa: Hợp tác, đào tạo, doanh nghiệp, Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doan

I. Đặt vấn đề

          Hiện nay, các chương trình đào tạo của các ngành do trường Đại học Kinh tế Nghệ An đã được thiết kế theo hướng giúp người học được thực hành, tiếp cận các nghiệp vụ cụ thể nhiều hơn. Ngành Kinh tế và ngành Quản trị kinh doanh có nhiều môn học tính ứng dụng cao nhưng vì thời lượng học lý thuyết nhiều nên sinh viên chưa có cơ hội được thực hành thực tế nhiều. Những chuyến đi thực tế với thời gian còn ít, sinh viên mới chỉ tìm hiểu được thông tin cơ bản về doanh nghiệp chứ chưa được trực tiếp cùng tham gia để tìm hiểu nội dung công việc cụ thể. Đến kỳ thực tập thì sinh viên có một thời gian ngắn chủ yếu để xin số liệu, tìm hiểu các nội dung thông tin làm báo cáo tốt nghiệp. Như vậy, nhìn chung cả khóa học, sinh viên được thực hành ngay tại doanh nghiệp rất ít. Điều này một mặt không khuyến khích sinh viên nghiên cứu thực tế, tạo sự ỷ lại khi các em nghĩ rằng hầu hết là học trên lớp, không cần phải tự mày mò thực tế nhiều, không chỉ làm giảm đi năng lực thực hành của sinh viên, mà còn làm cho các sinh viên cũng bị hạn chế cơ hội tìm việc làm khi ứng viên tốt nghiệp khác có năng lực thực hành tốt hơn.

         Một trong những giải pháp để giúp sinh viên tăng cường thêm năng lực thực hành sau khi đã được cung cấp kiến thức lý thuyết chính là tạo điều kiện cho sinh viên được thực tập tại các doanh nghiệp phù hợp với chuyên ngành mà sinh viên được học.

         Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm rõ ràng nào về đào tạo thế nhưng có thể xem đào tạo là cách thức truyền dạy kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng cho người khác, làm cho họ chuyển đổi thành một cấp bậc cao hơn với nhiều hiểu biết hơn. Nghĩa là đào tạo sẽ đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.

         Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định.

 II. Thực trạng hợp tác đào tạo gắn liền với doanh nghiệp cho sinh viên ngành Kinh tế và ngành Quản trị kinh doanh Trường Đại học Kinh tế Nghệ An

2.1. Khái quát hoạt động đào tạo gắn với doanh nghiệp của Trường đại học Kinh tế Nghệ An

            Trường Đại học Kinh tế Nghệ An (NACE) có lịch sử hình thành xây dựng và phát triển từ năm 1960, tiền thân từ các trường trung cấp của Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập lại. Trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Kinh tế Nghệ An trở thành một trung tâm đào tạo và chuyển giao khoa học - công nghệ hàng đầu Việt Nam về Kinh tế, kỹ thuật nông, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên và môi trường cho các tỉnh miền Trung và cả nước cũng như nước bạn Lào. Đây là cơ sở giáo dục đại học công lập, trực thuộc UBND tỉnh Nghệ An. Trường có chức năng đào tạo nguồn nhân lực về kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng, nông lâm nghiệp cho tỉnh Nghệ An và các tỉnh khu vực Bắc Trung bộ và cả nước. 

            Mục tiêu của Nhà trường là xây dựng trường trở thành một cơ sở đào tạo theo hướng ứng dụng, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ có chất lượng, uy tín hàng đầu của khu vực Miền Trung; là nơi tập trung các chuyên gia, cán bộ, giảng viên trình độ cao; có các chương trình đào tạo hợp tác và liên kết quốc tế sâu rộng; có cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, phục vụ tốt cho nhiệm vụ chính trị của trường. Công tác đào tạo nguồn nhân lực phải hướng đến mục tiêu đào tạo theo nhu cầu xã hội, định hướng đầu ra rõ ràng cho quá trình học tập và nâng cao chất lượng đào tạo. Trong đó, hoạt động đào tạo gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp là giải pháp rất thiết thực để nâng cao chất lượng đào tạo hiện nay. Doanh nghiệp kết hợp chặt chẽ với nhà trường và cùng tham gia quá trình đào tạo sẽ mang lại lợi ích cho các bên.

            Hiện nay các ngành học của Nhà trường đều có hợp tác với các doanh nghiệp để cùng hợp tác đào tạo cho sinh viên trong quá trình học.

            Các khoa chuyên môn của Nhà trường đều đã bắt đầu có sự chủ động xây dựng kế hoạch hợp tác với các doanh nghiệp, dựa trên các kế hoạch hợp tác đó để có sự điều chỉnh và xây dựng chương trình đào tạo, tăng tính thực tiễn của các học phần giảng dạy, gắn lý thuyết với thực hành. Đưa SV đi trải nghiệm, thực hành nghiệp vụ cụ thể tại doanh nghiệp để SV thực hành được những kiến thức đã được học. Hoạt động hợp tác điển hình ở một số khoa như: Ở Khoa Nông – Lâm – Ngư: đã ký kết hợp tác với nhiều công ty, vừa là nơi để sinh viên thực tế, thực tập, vừa có thể giới thiệu việc làm cho sinh viên Khoa sau khi tốt nghiệp: doanh nghiệp Chăn nuôi Hòa Phát, Tập đoàn Green Food Việt Nam, Công ty Dinh dưỡng Quốc tế Việt Đức, Công ty Cổ phần Thuốc Thú y Marfaret Đức Hạnh, Công ty Cổ phần Chăn nuôi Mitracol, Tập đoàn DeHues … Ngoài ra, còn có một số công ty dù chưa ký văn bản hợp tác nhưng đã tổ chức đưa sinh viên đi thực tế, như: Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây (Hà Nội), Trung tâm nghiên cứu và sản xuất Tinh đông lạnh Mocada (thuộc Trung tâm Gia súc lớn Trung ương), Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Như Thanh, Trang trại chăn nuôi Bò sữa TH- True milk, Trang trại chăn nuôi Bò sữa ở Hương Sơn Công ty MTV Bò sữa Việt Nam Vinamilk – Chi nhánh Hà Tĩnh). Trong đào tạo, Khoa đã thực hiện mô hình liên kết hai trong một “Đào tạo tại trường một phần, đào tạo tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hai phần”. Chương trình đào tạo đã được khoa và tổ chuyên môn thiết kế theo định hướng thực hành nhằm nâng cao khả năng đáp ứng được đòi hỏi yêu cầu của công việc trên thực tế. Bên cạnh đó, Khoa cũng đã thực hiện hợp tác với một số doanh nghiệp và tìm cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp được tuyển dụng đi Isarel, Nhật Bản.

            Khoa Kế toán – Phân tích: Với sự chỉ đạo thường xuyên của Nhà trường về việc hợp tác với doanh nghiệp để đào tạo. Khoa Kế toán – Phân tích đã thực hiện nhiều chương trình, hoạt động để làm tăng tính thực tế của đào tạo kế toán. Thời gian qua, khoa đã liên kết tuyển dụng với Cty Office 360 , Cty Tư vấn Thuế MT, Cty TNHH Dũng Diệu (Misa),…Cho sinh viên đi thực tế Cty Xi măng Hoàng Mai, Cty Cổ phần Dệt may Hoàng Thị Loan, Cty giống cây trồng hoa quả Phủ Quỳ, Cty TNHH Nhựa Tiền Phong… Theo đánh giá của Khoa Kế toán – Phân tích, việc hợp tác đào tạo với các doanh nghiệp của Khoa thời gian qua đã thông qua các chương trình hội thảo, đào tạo, bồi dưỡng với doanh nghiệp để bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán thực tế cho các sinh viên, phần nào hỗ trợ các sinh viên sớm được tiếp cận với các nghiệp vụ cụ thể, qua đó làm tăng cơ hội nghề nghiệp cho các em sau khi tốt nghiệp. Khoa đã đẩy mạnh hoạt động tìm và phối hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kế toán, cùng ký kết các biên bản ghi nhớ để tổ chức tuyển dụng, bồi dưỡng nghiệp vụ để tạo ra các cử nhân kế toán có kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc đáp ứng được yêu cầu của cac doanh nghiệp. Ngoài ra, Khoa cũng đã cùng phối hợp với các doanh nghiệp để giới thiệu các sinh viên đến thực tập, thử việc để giúp người học tiếp cận với tình huống, nghiệp vụ phát sinh thực tế, tích lũy kinh nghiệm, có thêm thu nhập, tạo động lực thúc đẩy sinh viên trong học tập.

2.2. Thực trạng đào tạo gắn với doanh nghiệp cho sinh viên ngành Kinh tế và ngành Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế Nghệ An giai đoạn 2014 – 2019

          Mã ngành Kinh tế của Nhà trường bắt đầu tuyển sinh và đào tạo từ năm học 2014 – 2015. Mục tiêu của đào tạo cử nhân kinh tế có phẩm chất chính trị, đạo đức và sức khoẻ tốt, nắm vững những kiến thức cơ bản về kinh tế xã hội, có năng lực chuyên môn về kinh tế, có khả năng phân tích, hoạch định chính sách và giải quyết các vấn đề kinh tế thuộc các lĩnh vực, các cấp khác nhau của nền kinh tế quốc dân, có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ.

          Sinh viên ngành quản trị kinh doanh được trang bị các kiến thức rộng về kinh tế, hiện đại về quản trị kinh doanh và những bài học kinh nghiệm quản lý của các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm giúp họ có những kỹ năng cần thiết và phẩm chất phù hợp để quản lý doanh nghiệp một cách khoa học và có hiệu quả cao. Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có thể làm việc ở các doanh nghiệp, công ty, tổng công ty, các đơn vị hoạt động trên các lĩnh vực: sản xuất, dịch vụ, xuất nhập khẩu, tài chính, tiền tệ. Nhìn chung hoạt động hợp tác đào tạo với doanh nghiệp của Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh cho sinh viên 2 ngành thời gian qua đã có một số kết quả được ghi nhận.          Ngay từ trong thiết kế chương trình đào tạo, với các môn học chuyên ngành có thể đi thực tế để giúp sinh viên nắm bắt nội dung, thực hành nghiệp vụ thì Khoa, 2 tổ bộ môn đều sắp xếp lịch trình và tổ chức cho các lớp đi an toàn, đảm bảo nội dung đề ra theo kế hoạch. Khoa luôn duy trì liên kết với các doanh nghiệp để cùng hợp tác đào tạo cho sinh viên. Hàng năm, các lớp đều được tổ chức đi thực tế tại các doanh nghiệp mà Khoa kết nối. Ngoài việc các doanh nghiệp hỗ trợ về địa điểm để sinh viên đi thực tế, thực hành thì Khoa cũng đã mời một số đại điện các doanh nghiệp đến cùng trao đổi với sinh viên tại trường. Một số hoạt động nổi bật như Hội thảo Chinh phục Điểm G, hạ gục nhà tuyển dụng, hay Hội thảo về thương mại điện tử thu hút không chỉ sinh viên của Khoa mà còn sinh viên của các khoa khác đến tham gia và tích cực cùng trao đổi với đại diện các doanh nghiệp. Khoa đã kết nối được một số Công ty ở Khu công nghiệp Nam Cấm, Khu công nghiệp Bắc Vinh, công ty Hải Nguyên ... đưa sinh viên đi trải nghiệm bán hàng ở Cửa hàng DKC123 Diễn Châu, tham quan mô hình ở Công ty Sữa Việt Nam Vinamilk chi nhánh Nghệ An, Công ty sữa TH Truemilk, Khu công nghiệp Nghi Sơn … Có thể thấy thời gian qua, Ban Chủ nhiệm Khoa đã rất nỗ lực trong việc tìm hiểu, kết nối với các doanh nghiệp để cùng hợp tác đào tạo cho sinh viên. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp mà Khoa hiện đang hợp tác còn chưa nhiều; nội dung hợp tác chú trọng vào hoạt động hỗ trợ sinh viên đi thực tế, trải nghiệm nghiệp vụ là chủ yếu. Phần nội dung đào tạo, chia sẻ về chuyên môn, nghiệp vụ thực tế của doanh nghiệp với sinh viên chưa nhiều, đang dừng ở hình thức hội thảo, chia sẻ … chưa có hoạt động hợp tác để giới thiệu việc làm cho sinh viên của ngành với các doanh nghiệp.

            Đầu năm học 2020 – 2021, để tăng thêm nội dung và phạm vi liên kết trong hợp tác đào tạo với doanh nghiệp, Ban Chủ nhiệm Khoa đã thực hiện ký Thỏa thuận hợp tác liên kết đào tạo với 04 doanh nghiệp: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông chi nhánh thành phố Vinh; Ngân hàng Thương mại cổ phần quân đội Chi nhánh Nghệ An;  Khách sạn Mường Thanh Vinh; Công ty Cổ phần công nghệ SAPO. Theo đó, Khoa sẽ cử sinh viên hoàn thành đủ các học phần chuyên môn, đủ điều kiện về điều kiện thể chất, dựa trên tinh thần tự nguyện đến các đơn vị này để tiếp nhận thực tập. Các đơn vị sẽ kết hợp quản lý sinh viên và hướng dẫn thực tập dựa trên nhiệm vụ đơn vị giao và nội quy, quy chế của đơn vị thực tập quy định. Như vậy, bằng việc ký thỏa thuận hợp tác liên kết đào tạo với các đơn vị này, Khoa đã tạo nên sự chặt chẽ trong liên kết đào tạo với các doanh nghiệp, quy định rõ vai trò, nhiệm vụ của các bên. SV đi thực tập cũng sẽ được hướng dẫn, tiếp cận với các nghiệp vụ cụ thể tại DN dưới sự hướng dẫn của các nhân viên lành nghề, điều này là tiền đề quan trọng để góp phần làm tăng hiệu quả trong quá trình học, thực hành của sinh viên, giúp các em nhanh tiếp nhận nghiệp vụ hơn, nghiêm túc, tự tin hơn trong quá trình thực hành, thực tập.

         Trong kế hoạch năm học 2021 – 2022, Khoa vẫn tiếp tục đặt vấn đề và ký kết với các doanh nghiệp hợp tác trong công tác đào tạo.

         Qua khảo sát thực trạng, một số kết quả của hoạt động hợp tác đào tạo với doanh nghiệp trong thời gian qua. Nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo giữa Nhà trường với các doanh nghiệp trong thời gian tới.

III. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo gắn với doanh nghiệp cho sinh viên ngành Kinh tế và ngành Quản trị Kinh doanh trường Đại học Kinh tế Nghệ An

3.1. Nhóm giải pháp từ phía Nhà trường

          Thứ nhất, Nhà trường cần có cơ chế để có thể mời các doanh nghiệp được cùng tham gia vào quá trình giảng dạy, biên soạn, phản biện chương trình đào tạo cùng Khoa và Nhà trường, tham gia phản biện đề tài tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu khoa học. Đây là cách thức hiệu quả để Khoa, Nhà trường nắm bắt được các yêu cầu thực tiễn, những yêu cầu các doanh nghiệp cần để từ đó có thiết kế chương trình, bài giảng cập nhập, phù hợp. Ngoài ra sẽ làm tăng tính liên kết giữa Nhà trường, Khoa và doanh nghiệp, tăng thêm cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi ra trường

          Thứ hai, định kỳ tiếp xúc tìm để hiểu nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp, qua đó góp phần xây dựng chuẩn đầu ra cho quá trình đào tạo. Với tốc độ thay đổi của nền kinh tế thị trường, việc đánh giá và thay đổi nội dung chương trình giảng dạy cho kịp theo yêu cầu thực tế là điều cần phải thực hiện. Thông tin liên quan từ các doanh nghiệp sẽ là nguồn tham khảo quan trọng để khoa, bộ môn, giảng viên sử dụng trong việc đối chiếu, so sánh, đánh giá với chương trình đào tạo, làm căn cứ để đề xuất thay đổi, điều chỉnh cần thiết, qua đó giúp SV nắm bắt được thực tế nhanh hơn, hiệu quả hơn

           Thứ ba, thiết lập cơ chế thỏa đáng nhằm khuyến khích các tập thể và cá nhân trên danh nghĩa Nhà trường đại diện ký kết hợp tác chiến lược toàn diện với doanh nghiệp để tạo điều kiện cho sinh viên trong quá trình thực tập, thực hành, định hướng nghề nghiệp cũng như cung cấp trang thiết bị cho nhà trường ...

           Thứ tư, Nhà trường tạo điều kiện để đội ngũ doanh nhân trực tiếp tham gia giảng dạy những nội dung cần thiết có thiên hướng thực hành. Hiện nay, Nhà trường, các khoa có mời được đại diện các doanh nghiệp đến tham gia, trao đổi tại các buổi hội thảo, chưa có hoạt động các doanh nhân trực tiếp đứng lớp các tiết giảng ở các bộ môn. Vì vậy, trước hết tổ bộ môn, Khoa có thể đề xuất một số tiết giảng cần có sự tham gia của đại diện các doanh nghiệp để đề xuất lên Ban giám hiệu để xét duyệt, làm căn cứ mời và xử lý các vấn đề về tiết giảng, hoặc tài chính liên quan

3.2. Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp

          Thứ nhất, cần nhận thức đầy đủ hơn về ích lợi cũng như xu thế tất yếu của mối liên kết doanh nghiệp- trường đại học, từ đó hoạch định chiến lược nhân sự trong tương lai. Do nhiều khó khăn, hạn chế từ quy mô doanh nghiệp, quy mô vốn và trình độ công nghệ, các doanh nghiệp hiện nay đa số vẫn chưa thực sự quan tâm đến hoạt động liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo nói chung và với Nhà trường nói riêng. Tuy nhiên, để có thể phát triển, về dài hạn, các doanh nghiệp nên chú trọng đến hoạt động hợp tác với các cơ sở đào tạo, xây dựng kế hoạch, nội dung hợp tác, đóng vai trò vừa là đối tác, vừa là khách hàng của các cơ sở này. Không chỉ hỗ trợ nhà trường trong các hoạt động, mà còn đặt hàng nhân lực, đặt hàng nhà trường để cùng giải quyết các bài toán về nhân lực, về thị trường, về công nghệ

         Thứ hai, để hạn chế, khắc phục tình trạng đào tạo lại sau khi tuyển dụng, doanh nghiệp cũng cần thiết lập bộ phận chuyên trách phản biện để góp phần xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo cho trường đại học hướng theo nhu cầu sử dụng lao động từ phía doanh nghiệp

          Thứ ba, có chiến lược nuôi dưỡng, ươm mầm tài năng tại các trường đại học bằng các hình thức cung cấp học bổng, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, tuyển dụng trước và sau tốt nghiệp; đặt hàng cơ sở đào tạo những đề tài, vấn đề khó mà doanh nghiệp đang có nhu cầu..

          Thứ tư, chủ động phối hợp với trường đại học trong việc biên soạn giáo trình, nội dung và phương pháp giảng dạy, bảo vệ đồ án, luận văn tốt nghiệp... để chương trình đào tạo “ăn khớp” với nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Chủ trương đưa các doanh nhân vào hội đồng trường đại học thời gian gần đây được nhìn nhận là một bước tiến trong chiến lược xã hội hóa giáo dục cũng như đào tạo theo nhu cầu xã hội.

3.3. Nhóm giải pháp từ phía các cơ quan chức năng

         Thứ nhất, thường xuyên thống kê thực trạng của thị trường lao động, dự báo về nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao để điều tiết lĩnh vực giáo dục - đào tạo cho phù hợp. Hoàn thiện cơ chế hoạt động của các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục trên tinh thần cạnh tranh, độc lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.

          Thứ hai, thiết lập nhiều kênh kết nối trường đại học với doanh nghiệp. Cơ quan quản lý có thể đứng ra tổ chức các sân chơi, các diễn đàn để nhà trường và doanh nghiệp gặp nhau, như sàn giao dịch công nghệ, gặp gỡ nhà trường - doanh nghiệp. Tổ chức để nhà trường và doanh nghiệp rút kinh nghiệm sau mỗi giai đoạn hợp tác để nâng cao hiệu quả liên kết trong tương lai

         Thứ ba, thay đổi cơ chế quản lý để nhà trường và doanh nghiệp có quyền tự chủ nhiều hơn. Khi đó, nhà trường sẽ được tự quyết định chương trình đào tạo của mình để kịp thời bắt nhịp với nhu cầu của xã hội và của nhà tuyển dụng; còn nhà tuyển dụng sẽ được tự do lựa chọn tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng. Hai bên sẽ hợp tác với nhau vì lợi ích sống còn của mình. Nhà nước sẽ đóng vai trò là “trọng tài” giải quyết những bất đồng, xung đột lợi ích giữa hai bên liên kết.

          Thứ tư, có cơ chế hỗ trợ nhà trường và doanh nghiệp thành lập các quỹ đầu tư phát triển chung để gia tăng sự ràng buộc, nâng cao tính năng động cũng như trách nhiệm của các chủ thể liên kết.

3.4. Về phía Khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh

    Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, 02 Tổ bộ môn và các giảng viên cần tiếp tục nỗ lực nâng cao trình độ, nâng cao chất lượng giảng dạy, khẳng định được chất lượng đào tạo của Khoa.

   Xây dựng nội dung, kế hoạch hợp tác đào tạo cùng doanh nghiệp phù hợp với chuyên ngành.

Tăng cường xây dựng và kết nối với mạng lưới cựu SV, những cựu SV hiện đang là quản lý của các DN. Họ sẽ là những cầu nối tích cực giữa Nhà trường – DN – Khoa nói chung, có hợp tác đào tạo, hợp tác nghiên cứu … nói riêng.

Kết luận

         Với tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực thực tiễn cho sinh viên, đề tài “Một số giải pháp tăng cường đào tạo gắn với doanh nghiệp cho sinh viên ngành Kinh tế và ngành Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế Nghệ An” đã khảo sát hoạt động hợp tác đào tạo cùng doanh nghiệp trong giai đoạn 2016 – 2019 của Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, chỉ ra một số kết quả đạt được cũng như một số hạn chế còn tồn tại, qua đó nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp từ phía Nhà trường, doanh nghiệp và các cơ quan chức năng để hoạt động hợp tác đào tạo với doanh nghiệp trong thời gian tới mang lại nhiều lợi ích hơn nữa cho sinh viên, Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh và Nhà trường.

TS Hồ Thị Hiền

Ths Trần Thị Thanh Hường


Bài viết khác